Tổng quan về chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn THPT
Trong chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn Trung học phổ thông tại The Dewey Schools, học sinh sẽ được tiếp cận với bộ sách giáo khoa KHXH&NV do Hội đồng khoa học sư phạm nhà trường biên soạn. Tiếp nối tinh thần tổ chức việc học theo phương hướng tự học – tự làm, đồng thời mở rộng thế giới quan cho người học thông qua hoạt động tìm hiểu và khám phá các phương diện khác nhau của con người trong thế giới, các tác giả bộ sách đã thiết kế chương trình học dựa trên những nội dung chủ đạo như sau: sách lớp 10 tập trung vào chủ đề tư duy và khả năng nhận thức của con người về thế giới; lớp 11 định hướng nội dung xoay quanh chủ đề đạo đức, luân lý cùng ý thức trách nhiệm để hành động cho xứng đáng với tư cách là một con người; còn lớp 12 hướng đến phạm trù cái Đẹp, thúc đẩy học sinh cảm nhận về những vẻ đẹp ở đời, biết tìm ra niềm ra niềm hi vọng cho cuộc sống của bản thân. Có thể thấy, tài liệu KHXH&NV được xây dựng nhằm hướng dẫn học sinh học tập, nghiên cứu và suy tư về ba lĩnh vực cơ bản thuộc phạm trù Người: lý trí, ý chí và nội cảm; từ đó hướng người học đến sự phát triển đầy đủ về các mặt Chân – Thiện – Mỹ.

Khoa học xã hội và Nhân văn – cầu nối giữa con người và thế giới
Khoa học xã hội và Nhân văn – môn học cần thiết trong một thế giới biến động
“Khoa học xã hội và Nhân văn đã luôn là trọng tâm của giáo dục. Chính môn học này đã tạo nên những công dân có tư duy phản biện mạnh mẽ.” (Martha C.Nussbaum)
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, trí tuệ nhân tạo đang ngày càng hiện diện sâu rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Con người bởi vậy đứng trước những thay đổi chưa từng có; rằng máy móc có khả năng học hỏi, phân tích và đưa ra quyết định với tốc độ vượt xa khả năng của con người. Đó vừa là một thành tựu đáng ghi nhận trong lịch sử khoa học kĩ thuật của nhân loại, đồng thời là mối đe dọa lớn đối với loài người. Cảm thức tự ti nảy sinh, khiến không ít người, đặc biệt là thế hệ trẻ – lớn lên trong thời buổi được tiếp cận sớm với trí tuệ nhân tạo, cảm thấy nhỏ bé và dễ dàng bị thay thế. Giữa một thế giới vận hành bằng thuật toán và dữ liệu, con người không chỉ đối diện với những thách thức công nghệ mà còn rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị và niềm tin; buộc họ phải đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của sự sống, về vị trí và vai trò của con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo lên ngôi. Khi AI có khả năng xử lí dữ liệu chỉ trong vài giây, liệu con người ta có còn cần thiết cho cuộc sống này?

Hiểu rõ những biến chuyển tất yếu của thời đại và con người, chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn được phát triển nhằm thúc đẩy những người học trẻ tuổi tư duy, lý giải về xã hội, xác lập lại niềm tin về con người trong thời đại số. Những vấn đề về nhận thức, đạo đức và cái Đẹp không chỉ được nhìn nhận dưới góc nhìn của văn chương nghệ thuật, mà mở rộng ra là lăng kính của triết học. Xét về mặt nội dung, trong chương trình lớp 10, học sinh sẽ được học những nội dung xoay quanh vấn đề con người và nhận thức. Các bạn sẽ được học về quá trình phát triển trong tư duy của con người:tư duy nguyên thủy của con người cổ đại, cho đến tư duy khoa học, để cuối cùng có thể đưa ra những suy tư của bản thân về câu hỏi: Tôi có thể biết gì về thế giới? Vì sao con người chúng ta cần phải biết? Kết thúc những bài học đầu của lớp 10, thông qua việc thực hành nghiên cứu những vấn đề của đời sống, các bạn trẻ hình thành cho mình những ý niệm về tư duy; từ đó biết cách ứng xử trước biến động của thời đại: có khả năng phản biện, lựa chọn có ý thức, biết đánh giá và nhìn nhận một cách logic về con người, sự vật và hiện tượng xung quanh. Đây chính là nền tảng, củng cố niềm tin của người trẻ trong bối cảnh rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị.

Sang đến năm lớp 11, học sinh sẽ được tìm hiểu về chủ đề con người và đạo đức. Các vấn đề mang tính chất trừu tượng, đòi hỏi suy tư nhiều hơn bắt đầu xuất hiện. Đó là vấn đề về “ý thức, hành động vì đạo đức cá nhân”, “quan hệ đạo đức trong xã hội” hay “thiện và ác giữa các nền văn hóa”. Từ những suy ngẫm trên, người học sẽ kết nối với câu hỏi cốt lõi được đặt ra ở bài học: Tôi có thể làm gì? Tôi cần phải làm gì để xứng đáng với vị thế là một con người trong xã hội? Từ những suy ngẫm về thiện-ác, người học liên kết với thực tế xã hội, bày tỏ những suy tư về vấn đề đạo đức. Trong một xã hội nơi khoa học – kĩ thuật giữ vai trò trung tâm, việc xử lí những vấn đề đạo đức trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Khi con người nắm trong tay kĩ thuật hiện đại, sở hữu trí tuệ nhân tạo có khả năng xử lí mọi vấn đề nhanh chóng trong chưa đầy một phút; đó cũng là lúc con người phải đối mặt với đạo đức bằng một tinh thần trực diện và nghiêm túc. Liệu con người sẽ làm chủ được công nghệ, hay để công nghệ chi phối ngược trở lại? Liệu các kĩ thuật hiện đại có giúp con người tạo ra những phát minh giúp ích cho đời không, hay có những phát minh ra để thách thức giới hạn đạo đức của con người? Chỉ khi được trang bị nền tảng nhân văn, con người mới có khả năng tự kiểm soát, phản biện và định hướng suy nghĩ, hành động của bản thân một cách có trách nhiệm.

Chương trình lớp 12 khép lại với chủ đề về con người và cái đẹp. Xoay quanh chủ đề, người học được tiếp xúc với những vấn đề liên quan đến cái đẹp ở đời: từ những rung cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên cho đến văn hóa nghệ thuật; từ đó tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi cuối cùng: “Tôi có thể hi vọng gì về cuộc sống?” Suy tư về cái đẹp tưởng chừng như vô nghĩa trong bối cảnh xã hội đề cao nhu cầu vật chất, ưu tiên giá trị khoa học kĩ thuật; nhưng trên thực tế, đó lại là nền tảng giúp con người vực dậy, tìm thấy hi vọng sống mạnh mẽ giữa một thế giới phân mảnh. Sự hiện diện của cái đẹp nhắc nhở con người ta rằng cuộc sống vẫn có những điều đáng nâng niu và trân trọng; nó xoa dịu tổn thương, khơi dậy cảm xúc và kéo con người vực dậy khỏi vực thẳm của cảm giác vô nghĩa, trống rỗng. Thông qua môn học, mảnh ghép “mĩ” trong “Chân – Thiện – Mĩ” đã được hình thành, từ đó tạo nên chân dung của một người học sắc bén về mặt tư duy, giàu có về mặt tinh thần. Đến đây, ba câu hỏi: ”Tôi có thể biết gì về thế giới?”, “Tôi cần phải làm gì để xứng đáng với vị thế là một con người trong xã hội?”, “Tôi có thể hi vọng gì vào cuộc sống?” đã trở thành là ba truy vấn nền tảng giúp người học trả lời cho câu hỏi đầu tiên và cũng là cuối cùng của triết học: “Tôi là ai? Con người là ai?”
Khoa học xã hội và Nhân văn – vì mục tiêu hướng đến sự phát triển của người học
Đã bao giờ chúng ta tự hỏi: Thế nào là tư duy? Cái đẹp là gì? Làm thế nào để ta đánh giá đó là một hành động có đạo đức hay không? Những khái niệm trên hết sức gần gũi, thân quen trong cuộc sống của chúng ta nhưng không phải ai cũng có thể đưa ra lý giải của mình về những ý niệm trừu tượng đó. Cái cây, quyển vở, hộp bút,…, với vai trò là những sự vật hữu hình đều được định nghĩa trong từ điển; nhưng tư duy, đạo đức hay cái đẹp lại không có một khái niệm cụ thể đại diện cho chúng. Khoảnh khắc bước lên hành trình Khoa học xã hội và Nhân văn cũng là khi người học buộc phải dấn thân vào con đường rèn giũa năng lực ngôn ngữ của chính mình; học cách sử dụng ngôn ngữ của bản thân để những khái niệm trừu tượng, đồng thời biết biện luận, bày tỏ suy nghĩ của bản thân về một vấn đề trong đời sống.

Việc hiểu rõ bản chất, mục tiêu và ý nghĩa của môn học, đặt trong bối cảnh xã hội đầy biến động có vai trò vô cùng quan trọng; bởi để trở thành công dân toàn cầu, có khả năng thích nghi, học tập và làm việc tại đa quốc gia trên thế giới, người học cần phải nhận thức được trách nhiệm của bản thân trong xã hội, học cách nuôi dưỡng và phát triển tư duy phản biện, tư duy đa chiều; đồng thời biết cách đối diện trước những vấn đề mang tính căn cốt trong thế giới đa văn hóa bằng một lăng kính thấu hiểu, tôn trọng và đồng cảm. Môn Khoa học xã hội và Nhân văn được phát triển bởi lẽ đó, nhằm hướng đến mục tiêu phát triển người học thành những công dân toàn cầu. Thông qua môn học, người học được phát triển mạnh mẽ tư duy phản biện cùng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Mục tiêu trên đây có thể được nhận thấy thông qua cách xây dựng các hoạt động học tập trong môn học; cụ thể trong bài học về Tư duy thần thoại, với nội dung tìm hiểu về cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, học sinh sẽ được tham gia hội nghị các vị thần toàn cầu, đóng vai thần để trao đổi, chia sẻ về cách thức họ tạo ra thế giới. Từ nội dung tìm hiểu, GV tiếp tục đặt ra cho học sinh những câu hỏi giàu tính suy tư hơn; từ đó thúc đẩy người học suy nghĩ về tính khu biệt của từng nền văn hóa cũng như tư duy mang tính phổ quát giữa các thần thoại khác nhau trên thế giới: Những câu chuyện về nguồn gốc của thế giới có điểm chung hay không? Điểm chung đó phản ánh điều gì? Điểm khác biệt trong cách thức lý giải sự hình thành thế giới của các thần thoại khác nhau có phản ánh bản sắc dân tộc, căn cước văn hóa của từng vùng, miền hay không? Cùng một nội dung tìm hiểu, nhưng qua những câu hỏi gợi dẫn của giáo viên, học sinh đã hình thành cho mình năng lực tư duy đa chiều; rằng thần thoại vừa là ngôn ngữ chung của nhân loại – nơi mọi dân tộc cùng chia sẻ ước mơ lý giải thế giới, đồng thời là tấm gương phản chiếu bản sắc riêng của từng nền văn minh.
Khoa học xã hội và nhân văn – Khi những điều bạn biết không giới hạn trong SGK
Đến với sách giáo khoa Khoa học xã hội và Nhân văn, người học sẽ thấy kết thúc mỗi bài học đều có mục thư viện nhỏ. Đó là nơi vốn đọc của các em được rộng mở, bên cạnh những ngữ liệu đã được chọn lọc đưa vào sách giáo khoa làm bài học chính. Bàn về vấn đề nhận thức của nhân loại cùng thái độ của con người trước những tri nhận ấy, các em được tiếp xúc và khám phá các tác phẩm nổi bật như “451 độ F” của Ray Bradbury, hay Social dilemma – một phóng sự nổi bật của Jeff Orlowski về mối quan hệ giữa con người và công nghệ – rằng chính chúng ta đang bị thao túng và sử dụng như những công nghệ. Hay trong chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn 12, để tìm hiểu kĩ hơn về chủ đề “Cái đẹp”, các tác giả sách giáo khoa đã thiết kế một danh sách về các tác phẩm văn học nổi bật, nhằm khuyến khích người học tìm hiểu, suy tư về vấn đề được gợi ra từ các những cuốn sách như: tuyển tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, tùy bút “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng, “Gót sen ba tấc” của Phùng Kí Tài hay “Chiến tranh không có gương mặt phụ nữ” của Svetlana Alexievich,… Vốn đọc của học sinh được mở rộng, không chỉ trong khuôn khổ của những tác phẩm văn học nước nhà mà rộng ra là cả những tác phẩm kinh điển của thế giới; trong đó có thể kể đến như vở bi kịch Macbeth của William Shakespeare, “Thằng gù nhà thờ Đức bà” của Victor Hugo hay “Frankenstein” của Mary Shelley. Bên cạnh đó, không chỉ học tập qua một loại hình nghệ thuật duy nhất là văn học, trong chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn, học sinh còn được tìm hiểu, khám phá những vấn đề của đời sống được gửi gắm qua các tác phẩm nghệ thuật đa dạng khác như điện ảnh, hội họa, điêu khắc,… Điều này có thể được nhận thấy thông qua bài học cụ thể về nội dung “Thế nào là cái Đẹp” trong chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn 12.

Để rút ra được kết luận về những hệ giá trị xác định cái Đẹp, học sinh sẽ được gợi ý tìm hiểu về sự thay đổi trong quan niệm cái đẹp của hội họa xuyên suốt diễn trình lịch sử. Qua bức vẽ nàng Mona Lisa của Leonardo de Vinci, học sinh nhận thấy cái đẹp được xác định bằng quy chuẩn của tỉ lệ vàng; nhưng sang đến phương Đông, cùng thời đại, nhưng người Trung Quốc lại chuộng những bức vẽ thủy mặc, lấy thiên nhiên làm chuẩn mực, đề cao những khoảng trống giàu sức gợi trong tranh. Có thể thấy, chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn hướng đến chân dung người học có hiểu biết rộng mở về con người và thế giới; thông qua việc xây dựng hệ thống ngữ liệu học tập cùng tủ sách phong phú, đa dạng.
Khoa học xã hội và Nhân văn – nơi truy vấn là cốt lõi của môn học
“Tự hỏi là sự khởi đầu của trí tuệ” (Socrates)
Học tập truy vấn (IBL) được coi là phương pháp trọng tâm được ứng dụng trong công tác giảng dạy tại The Dewey Schools, xuyên suốt từ chương trình Văn-Tiếng Việt Tiểu học đến chương trình Khoa học xã hội và Nhân văn THPT. Với học tập truy vấn, học sinh được đặt vào vị trí của những người khám phá tri thức, liên tục đặt câu hỏi, tự tìm kiếm thông tin, đối thoại với người xung quanh và phản tư để xây dựng hiểu biết của chính mình. Thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động, người học tham gia vào quá trình học tập như những chủ thể tư duy độc lập: các bạn trẻ tự đặt ra những nghi vấn về con người, hiện tượng, tự mình kiểm nghiệm và lý giải từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Quá trình truy vấn bởi vậy, không chỉ thúc đẩy các em chủ động tích lũy tri thức mà còn rèn luyện năng lực tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Bên cạnh học tập truy vấn, học tập dự án (PBL) cũng là một trong những phương pháp trọng tâm được triển khai và áp dụng tại chương trình Khoa học xã hội và nhân văn THPT. Với học tập dự án, mỗi chủ đề thường được triển khai thành những dự án thực tiễn, gắn với các vấn đề được quan tâm tại địa phương và trên toàn cầu – nơi học sinh vận dụng tư duy triết học, ngôn ngữ và kĩ năng nghiên cứu để giải quyết một vấn đề cụ thể của đời sống cá nhân hoặc cộng đồng. Xuyên suốt ba năm học Trung học phổ thông, các dự án học tập được tổ chức, vừa mang tính thực tiễn cao, vừa thú vị, lại vừa mang tính thách thức đối với người học. Như trong chương trình KHXH&NV 10, học sinh được tham gia dự án học tập lễ hội thần linh. Các em sẽ được chia nhóm tương ứng với các nền văn hóa lớn trên thế giới, thực hiện sưu tầm, thiết kế tuyển tập cũng như tự mình kể lại câu chuyện thần thoại theo các hình thức như diễn xướng dân gian, diễn kịch, thực hành nghi lễ,…Các em không còn ở vị thế của một người học thụ động, lắng nghe những tri thức được truyền thụ mà được chủ động tìm tòi, đưa ra những đề án giải quyết cho các vấn đề nóng của xã hội. Các dự án học tập bởi vậy, không chỉ thúc đẩy người học trở thành những con người trưởng thành về mặt tư duy, cảm nhận mà còn hướng các em – những người trẻ tuổi đến điểm đích của việc trở thành một công dân toàn cầu, có khả năng học tập liên văn hóa.
Chân dung người học
Khoa học xã hội và Nhân văn không phải là một môn học dễ dàng, bởi chương trình học đào sâu vào những vấn đề mang tính căn bản của cá nhân và cộng đồng dưới góc độ triết học. Môn học đòi hỏi người học phải đối diện với nhiều khái niệm trừu tượng, những vấn đề mang tính rộng mở và hàng vạn câu hỏi không tồn tại đáp án duy nhất. Chính những thách thức ấy trở thành môi trường nuôi dưỡng sự trưởng thành về mặt tư duy và bản lĩnh trí tuệ. Sau ba năm Trung học phổ thông, học sinh tại The Dewey Schools sẽ trở thành những con người dạn dĩ, mạnh mẽ – dám nghĩ, dám nói và dám viết bằng tiếng nói mới mẻ, dũng cảm của người trẻ.

Dám nghĩ – đó là khi các em dám đặt câu hỏi trước những điều tưởng chừng như hiển nhiên trong cuộc sống, dám nghi ngờ các khuôn mẫu sẵn có và dám đào sâu vào bản chất của hiện tượng xã hội. Dám nói – đó là khi các em dám cất tiếng bày tỏ chính kiến của bản thân một cách logic; biết lắng nghe và đối thoại trên tinh thần tôn trọng. Và dám viết là khi các em sẵn sàng sử dụng ngôn ngữ như một công cụ tư duy để diễn đạt tư tưởng, cảm xúc và lập trưởng xã hội. Trong một thế giới dễ bị chi phối bởi tốc độ và đám đông, sự dám nghĩ – dám nói – dám viết ấy giúp người học khoa học xã hội và nhân văn giữ vững bản lĩnh, khẳng định cái tôi trí tuệ và từng bước trưởng thành như những chủ thể tư duy tự do, có khả năng tham gia vào đời sống xã hội một cách chủ động và có ý nghĩa.
Bài viết được thực hiện bởi cô Nguyễn Vân Anh & Nguyễn Ngọc Hà Phương – Hội đồng Khoa học & Sư phạm The Dewey Schools




